Thứ Hai, 26 tháng 5, 2014

Bài thơ chưa có tên

Các bạn thân mến!
Mời các bạn tham gia đặt tên cho bài thơ cũng là để góp tiếng nói của mình vào tiếng nói chung của dân tộc chống chủ nghĩa bành trướng Trung Hoa:
Bài thơ chưa biết đặt tên

Bầy Tàu Khựa là quân lang sói
Lộ nguyên hình chó đói tanh hôi
Nói lời lại nuốt lấy lời
Ăn, ăn - ỉa, ỉa - ỉa rồi lại ăn 


Mang nọc độc rắn, trăn quỷ quái
Chỉ luôn tìm cách hại xung quanh
Luôn mồm hữu hảo em, anh
Bên hông thường giắt những thanh gươm mềm*


Gươm cắt cổ ngọt êm địch thủ
Giết bất kỳ nghĩa phụ, sư ông
Lạc loài phản bác tổ tông**
Ngang tàng sự thật  cũng không nể gì.


Ta nhường nhịn có kỳ có mực
Quá quắt thì lá trúc thành chông.
Dân ta dòng giống Lạc Hồng
Quyết tâm giữ vững non sông sơn hà


Bầy Tàu Khựa rõ là kẻ xấu
Trung Nguyên luôn lấn dậu láng giềng
Làm sao xứng mặt anh hùng....
Từng làm: TRÂU, NGỰA cho HUNG NÔ mà


Ngay cả nước Bry - ta bé nhóc
Cũng đè đầu túm tóc Mãn Thanh
Từng làm nô lệ Japan
Nhờ Liên Xô giải thoát oan ách này


Sơ qua chút cho mày nhớ nhé
Gái Việt Nam như thể Bà Trưng
Dù thân con gái quần hồng
Đánh cho giặc Hán chết không kịp lường


Nào là bến Chương Dương - Hàm Tử
Nào Ngọc Hồi, Bãi Cọc Đằng Giang
Đống Đa giữa đất Thăng Long
Bao nhiêu xương Hán thối trong Gò này


Năm bảy chín (1979) lũ bay xâm lược
Bao sinh linh chết - được gì không?
Việt Nam con Lạc cháu Rồng
Muốn hòa bình, chứ quyết không ươn hèn


Nếu Tàu Khựa gây nên chiến sự
Lại thêm trang lịch sử huy hoàng
Việt Nam dân tộc anh hùng
Đánh tan Hán tặc:
- Lạy ông con chừa!
Ngày 24 - 05 - 2014
Đỗ Xuân Đào

Chú thích:
*Bọn sát thủ Tàu sử dụng loại vũ khí giết người lợi hại. Loại "kiếm mềm" chúng được làm bằng thép đặc biệt  mảnh dẻ như lá lúa nhưng sắc như dao cạo bình thường thì nó được cuốn tròn như chiếc thước đo hoặc cây bút..... khi ngấn cá thì lưỡi gươm bật ra đối thủ không thể chống đỡ kịp 
** Năm 1904 Triều đình Mãn Thanh ấn hành tập bản đồ: Hoàng triều thực tỉnh địa chí toàn đồ.
Theo bản đồ này thì cực Nam của Trung Quốc chỉ đến đảo Hải Nam không có Hoàng Sa hay Trường Sa
Nhưng con cháu của Nhà Thanh đã ngang nhiên bác bỏ tấm bản đồ mà cha ông chúng đã dày công tạo dựng  
                                                                                                                                                                                                                                                                                     

Thứ Sáu, 23 tháng 5, 2014

ĐIỂM MẶT QUÂN THÙ PHÚ




 Nhà thơ Kha Tiệm Ly vốn được rất nhiều người biết đến với các bài phú hào khí ngất trời như HOÀNG SA NỘ KHÍ PHÚ, HOÀNG SA TIẾU NGẠO PHÚ, thể hiện nhiệt huyết sục sôi của dòng giống Lạc Hồng luôn luôn bất khuất trước hành vi ngang ngược của Trung Quốc trên Biển Đông. Anh vừa gửi đến chúng tôi bài phú mới nhất ĐIỂM MẶT QUÂN THÙ PHÚ. Xin mời quý bạn cùng đọc!

      


  ĐIỂM MẶT QUÂN THÙ PHÚ

  Biển đông cao sóng hờn căm,
  Hải đảo cựa mình đau đáu.
  Nhìn về Hoàng Sa, tan dạ nát gan,
  Nghĩ tới Trường Sa, đứng tim sôi máu!

  Hỡi quân thù!
  Chớ ỷ mạnh mà quen thói hung tàn,
  Chớ cậy đông mà giở trò thô bạo!

  Nói cho mi biết:
  Đụng tới viên sỏi đảo ta, là đụng tới ngàn năm công đức tổ tiên,
  Làm nhục một người dân ta, là làm nhục trăm triệu anh em máu thịt!
  Hiếp biển nước ta, là bôi mặt nòi giống Tiên Rồng,
  Cướp đất đảo ta, là sỉ nhục giang sơn Đại Việt!
  Cha, chú ta, dân cày ruộng cũng là hảo hán anh hùng,
  Mẹ, chị ta, người nấu bếp cũng là nữ lưu hào kiệt!
  Trước họa nước, bao hiểm địa cũng thành Vạn kiếp, Chi Lăng,
  Trước nạn dân, mọi trường giang đều hóa Bạch Đằng, Như Nguyệt!
  Hồi trống trường, cũng thành trống trận thúc quân,
  Bóng cờ lau, cũng thành bóng cờ quyết thắng!

  Nói cho mi nhớ,
  Triệu Nương, một dải yếm đào mà Lục Dận chẳng một tàn quân,
  Trưng Vương, hai mảnh quần hồng mà Tô Định không còn manh giáp!
  Sức mạnh ta là Hội Nghị Diên Hồng,
  Khí thế ta là cánh tay sát thát!
  Sao không lấy gương Liễu Thăng, Ô Mã mà soi?
  Sao không lấy chuyện Thoát Hoan, Vương Thông mà xét?
  Thấy Sầm Nghi Đống treo cổ sao chẳng rớt tim?
  Nghe Hứa Thế Hanh bỏ mạng mà chưa vỡ mật?
  Thanh gươm Lê Lợi, trăm năm sau, mi vẫn còn phách mất hồn tan.
  Vó ngựa Lý Thường, hai châu cũ (**), đất chẳng dám hoa khai cỏ mọc!

  Với bọn mi,
  Tổ tiên ta từng bẻ trúc rừng làm ngọn giáo dài,
  Cha anh ta đã lấy lưỡi cày đúc thanh kiếm bạc.

  Thế mà,
   Đằng Giang mấy lần nhuộm máu, máu thù chẳng hết  tanh hôi,
   Đống Đa một trận phơi xương, xương giặc vẫn chưa rũ mục!
  Chương Dương gươm khua chan chát, xác cản mũi tàu, xác nghẽn bước quân,
  Khâm Châu sét nổ ầm ầm, máu ngập chân thành, máu dơ chân ngựa!

  Huống chi nay,
  Tiềm thủy đỉnh xuất quỷ nhập thần,
  Chiến đấu hạm, đi giông về lốc.
  Đầy căn cứ, muôn (*) dàn hỏa tiển đối không,
  Nghẹt vùng trời, hàng đội phi cơ tiềm kích.
  Cờ phất, đạn bay khiếp quỷ kinh thần,
  Bấm nút, bom rơi long trời lở đất.
  Tàu ta ầm ầm lướt biển, trèo lên sóng dữ gió to,
  Quân ta ào ạt băng rừng, đạp nát cây gai lá sắc.
  Gươm anh linh thép vẫn ánh ngời ngời,
  Tim chính khí máu luôn sôi sùng sục!

  Dù vũ khí có chia rõ nhược, cường.
  Nhưng ý chí mới định phân cao, thấp:
  Quân mi mấy mươi vạn (*), mà Đằng Giang xác nổi như bèo?
  Quân mi mấy mươi muôn, mà Hồng Hà thây trôi như rác?
  Quân ta mấy vạn, mà xác bọn mi làm nghẽn đường chiến tượng Quang Trung?
  Quân ta mấy muôn, mà máu lũ mi đã đẫm giáp chinh y Hưng Đạo?
  Lớn miệng khoe đất rộng, mà chịu làm tôi tớ bởi bầy ngựa Nguyên Mông,
  Cao giọng ỷ người đông, lại đành làm tai sai do mấy đoàn quân Nhật!

   Chúng ta đây,
   Hướng ra biển, triệu triệu anh em chung dạ sẵn sàng,
   Muốn hồi hương, vạn vạn kiều bào một lòng háo hức.
   Đem tim gan tôi đỏ chí quật cường,
   Lấy đoàn kết, nấu sôi lòng son sắt!
   Cờ tổ quốc đâu để nhạt màu,
   Máu hùng anh không cho phai sắc!
   Liệt sĩ Hoàng Sa luôn bám bước quân hành,
   Liệt sĩ Gạc Ma vẫn theo người cứu quốc!
   Từng đánh mi trăm trận, đã biết đâu đá đâu vàng,
   Giờ thử lửa một phen, cho biết ai gang ai sắt?

   Anh em ta,
   Nam nhi hề, chí tại biển đông,
   Chiến sĩ hề, thân treo đầu súng.
   Cửu Long vẫn hiên ngang chín khúc hào hùng,
   Hoàng Liên mãi sừng sững mấy tầng cao ngất.
   Lúc gian nguy, ra trước ngõ lại thấy anh hùng
   Buổi quốc nạn, xoay bai bên đụng người kiệt xuất!
   Vì chung trăm trứng, nên đá nghìn non  thương về hải đảo anh em,
   Cũng bởi một nòi, mà nước muôn lạch tìm đến biển xanh cốt nhục.
   Chung mẹ Âu Cơ, nên máu chảy ruột mềm,
   Cùng cha Long Quân, mới lòng đau dạ thắt.
   Trăm triệu đồng bào đều muốn vượt trùng khơi,
   Mấy triệu anh em luôn hướng về cố quốc.
   Bọn chúng bây, nào một lần cướp nước, hại dân,
   Anh em ta, đã bao bận đuổi thù, giết giặc.
   Thân vắt mạn tàu, bao anh hùng muôn thuở thơm danh,
   Chết dưới ngọn cờ, máu liệt sĩ ngàn năm đỏ sắc!
   Hét lên đi! Đại Việt hùng cường!
   Vung tay lên! Việt Nam bất khuất!
   Máu đọ máu thử coi ai đỏ ai đen?
   Tim đọ tim thử xem ai vinh ai nhục?

   Lời cuối cho mi:
   Lịch sử Âu Lạc không thiếu đấng kiên trung,
   Nhân dân Đại Cồ chẳng có người khiếp nhược!
   Hải đảo ta một vùng khiêm tốn, vẫn đủ cho lũ giặc chôn thây,
   Biển đông ta bốn hướng mênh mông, dư sức để muôn tàu dìm xác!
   Ta nói có cội có nguồn,
   Mi liệu tính sau tính trước!

                                                                         KHA TIỆM LY

Thứ Sáu, 16 tháng 5, 2014

Vịnh bác thợ xẻ

Các bạn thân mến!
Xin mời các bạn thưởng thức hai bài thơ vịnh bác thợ cưa (thợ xẻ) và bài phê phán thói không có văn hóa giao thông của bác 
Trần Duy Nhiên. Một cây thơ nổi tiếng trong Câu lạc bộ thơ Khóm Trúc
Bài một:
Vịnh bác thợ cưa
Không hàm, chẳng lợi, lại nhiều răng
Súc gỗ vắn dài cứ xẻ phăng
Nhún nhẩy người trên khom cật kẽo
Nhấp nhô kẻ dưới ưỡn lưng giằng
Mới đầu dư sức còn trò chuyện
Cuối hiệp mệt phờ hết nói năng
Cửa rộng nhà cao nhờ cậy bác
Ngẫm xem công cán mấy ai bằng?
Trần Duy Nhiên

Họa y đề (nguyên vận)
Vịnh bác thợ cưa
 Kẻ đẩy, người lôi cái lưỡi răng
Đinh, lim, sến, táu cứ đi phăng
 Cúi đầu, chổng đít người trên đẩy
Vươn cổ, bành mông kẻ dưới giằng
Khỏe khoắn, ban đầu còn giỏi phịa
Tàn hơi, cuối buổi hết tài năng
Khi xưa pha gỗ là như thế
Kéo xẻ thời nay chẳng thể bằng!
16/5/2014
Đỗ Xuân Đào


Tay lái lụa
Khoe tay lái lụa cứ nghênh ngang
Đụng phải cọc tiêu bể gẫy càng
Sất trán mẻ đầu còn khoác lác
Băng tay, bó cẳng vẫn huyênh hoang
Anh hùng xa lộ toàn đồ rởm
Đạt cúp si ghêm rặt loại xoàng
Suýt nữa được ngồi sau nải chuối
Nam Tào say rượu gạch nhầm trang
Trần Duy Nhiên

Họa hoán vận (y đề)
Tay lái lụa
Cậy giỏi ra đường cứ phóng ngang
Vít ga gào rú tựa bò hoang
Lướt bừa đường phố đua đu võng
Húc phải gốc cây ngã gục càng
Cẳng bó gà đen chưa biết khiếp
Đầu băng gạc trắng vẫn kêu xoàng
Thói ngông nghênh đó không từ bỏ
Sẽ sớm vào nằm chốn nghĩa trang
16/5/2014
Đỗ Xuân Đào

Thứ Hai, 12 tháng 5, 2014

GẶP BẠN

Các bạn thân mến!
Do người mệt nên ít dạo chơi ... xin tặng các bạn bài thơ mới làm khi còn đang rất yếu:
Ngũ độ thanh
Gặp bạn
Mỗi tháng lần vui ở hội trường
Trong chiều thị trấn trả tiền lương
Không màng khói tỏa ly trà đượm
Cũng chẳng làn bay chén rượu hường
Trọng Tẫu đây mà không đổi khác
Xuân Đào đó hả vẫn như thường
Vần thơ thoải mái lời thân mật
Nghĩa cả, tình thâm một phố phường.
10/5/2014
Đỗ Xuân Đào

Thứ Sáu, 9 tháng 5, 2014

Họa thơ blog Mùa Thu Vàng

Bài xướng:
Hoàng hôn tím
Hoàng hôn buông tím cả trời mây
Lá úa vàng rơi xao xác đầy
Gió thổi từng cơn tung tóc rối
Mưa rơi mấy trận phủ vai gầy
Sương mờ khoả lối ru hồn quạnh
Cỏ dại quẩn chân níu bước chầy
Trùng điệp non xa mờ ảo hiện
Thơ sầu vần cũ vẫn còn đây./.
Vĩ Cầm

Họa:
Hoàng hôn tím 1
Lơ đãng hoàng hôn tím ngắt mây
Lá vàng xơ xác rụng rơi đầy
Vài cơn gió thổi bay làn tóc
Mấy trận mưa rơi dúm dáng gầy
Mờ mịt sương sa lòng mấy khúc
Sáng trưng đèn đuốc dạ bao chầy
Xa xa ẩn hiện người trong mộng
Tím nhớ hoàng hôn ở mãi đây./.
Đỗ Xuân Đào

Hoàng hôn tím 2 
Tím ngắt hoàng hôn phủ phía tây
Gió đưa ngọn liễu nhẹ nhàng lay
Long lanh Thỏ Ngọc soi vòm giếng
Lấp lánh Sông Ngân tỏ vệt mây
Nẩy khúc Chiêu Quân đau thắt dạ
Ca bài chinh phụ rã rời tay
Thượng huyền trăng đã dần dần khuất
Tình đã trào dâng mãi ở đây!
Đỗ Xuân Đào

Khách trong vòng kết nối

Người theo dõi